Gia đình nhà văn Ngô Tất Tố “bức xúc” với NXB

Gia đình nhà văn Ngô Tất Tố “bức xúc” với  NXB . Gia đình nhà văn Ngô Tất Tố cho rằng sách “Lều chõng” và “Việc làng”, do NXB Hội nhà văn và Nhã Nam ấn hành, vi phạm quyền nhân thân được quy định trong luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, phía đơn vị xuất bản phủ nhận những cáo buộc này.  

Có vi phạm quyền thân nhân? Gần đây, vợ chồng con gái nhà văn Ngô Tất Tố, ông Cao Đắc Điểm và bà Ngô Thị Thanh Lịch – đại diện gia đình nhà văn Ngô Tất Tố đã lên tiếng về việc 2 bản in của cố nhà văn là “Lều chõng” và “Việc làng” do NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam phát hành năm 2014 bị cắt bỏ, dẫn sai từ và cụm từ. Theo đại diện gia đình cố nhà văn NXB Hội Nhà văn và Nhã Nam đã vi phạm quyền nhân thân, được quy định trong luật Sở hữu trí tuệ.

Nhà văn Ngô Tất Tố sinh năm 1894, mất năm 1954. Đến nay ông mất đã 60 năm, nên quyền tài sản của ông đối với các tác phẩm không còn (Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định 50 năm), tuy nhiên, quyền nhân thân được bảo hộ vĩnh viễn. Quyền nhân thân cho phép tác giả: “Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác phẩm”.

Theo gia đình cố nhà văn, bản in “Lều chõng” 2014 của Nhã Nam đã cắt bỏ gần 1.000 chữ và dẫn sai nội dung ở gần 20 chỗ so với bản đăng trên “Thời vụ” năm 1939. Ví dụ, bản 2014 của Nhã Nam cắt bỏ các đoạn: “Cô Nghè Thúy ngồi võng trong lễ vinh quy” – 79 chữ; đoạn “Bói Kiều” – 90 chữ; đoạn “xử phạt tội trai gái của một nho sĩ” – 196 chữ; đoạn “làm bài thuê ngay tại trường thi” – 282 chữ… Còn bản in “Việc làng” của Nhã Nam đã cắt bỏ hai đoạn văn, một ở “Phần VI – Góc chiếu giữa đình” và đoạn khác ở “Phần XII – Một tiệc ăn vạ”. Tổng số chữ bị cắt là 789 chữ.

Ngoài ra, trong hai cuốn sách còn có nhiều đoạn in sai từ và cụm từ. Ví dụ, “vặt diệt” in sai thành “vật diệc”, “tiêu trường hạ” in thành “tiêu tường hạ”, “đãi dạ lai” in thành “đáo dạ lai”. Gia đình cố nhà văn còn cho rằng Nhã Nam đã quá lộng hành khi ghi lên bìa lót của sách “Lều chõng” và “Việc làng” năm 2014 dòng chữ: “Ấn bản đã được bảo hộ. Mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phân phối, dưới dạng in ấn hoặc văn bản điện tử, đặc biệt là việc phát tán trên mạng Internet mà không có sự cho phép văn bản của Nhà xuất bản là vi phạm pháp luật…”.

Ông Cao Đắc Điểm thông tin thêm, từ hơn 10 năm nay, ông và vợ đã thực hiện các công trình khảo cứu về văn bản nhằm khôi phục, giám định nguyên bản gốc và khảo cứu các sai lệch khi tái bản các tác phẩm của Ngô Tất Tố. Các công trình này đã chính thức đăng ký, được Cục bản quyền cấp chứng nhận “bản quyền tác giả biên soạn” và “quyền chủ sở hữu”. Tuy nhiên, khi NXB Hội Nhà văn và Nhã Nam in sách đã không tham khảo công trình khảo cứu của họ.

NXB phủ nhận cáo buộc. Tuy nhiên, đại diện công ty Nhã Nam lại khẳng định họ không hề vi phạm quyền nhân thân của tác giả. Theo ông Vũ Hoàng Giang – Phó giám đốc công ty Nhã Nam, NXB và nhóm thực hiện bộ sách “Việt Nam danh tác” đã ưu tiên in lại sách theo bản mà họ cho là bản in đầu tiên. Cụ thể, cuốn “Lều chõng” in theo bản của NXB Mai Lĩnh năm 1941, và “Việc làng” in theo bản của NXB Mai Lĩnh năm 1940.

Ông nhấn mạnh:“Tôi nghĩ văn bản mà nhóm làm sách dựa vào là bản khả tín nhất. Ông Cao Đắc Điểm muốn nói bản nào giá trị hơn, thì có lẽ cũng cần phải đưa ra tư liệu cụ thể”.

Với ý kiến cho rằng Nhã Nam tự ý cắt bỏ nhiều chỗ, ông Giang nói: “Ấn bản Lều chõng và Việc làng của Nhã Nam và NXB Hội nhà văn không tự ý cắt bỏ bất cứ đoạn văn nào so với hai bản in của NXB Mai Lĩnh. Nếu như ông Điểm so với bản in trên báo thì đó là quan điểm nghiên cứu riêng của ông, không thể coi là bắt buộc áp đặt cho cả giới nghiên cứu và xuất bản được”.

Bên cạnh đó, với ý kiến của gia đình cố nhà văn về dòng chữ được in ở bìa lót, ông Giang nói: “Dòng chữ ‘Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ…’ chỉ là một mẫu câu công thức, mà các đơn vị xuất bản trong và ngoài nước vẫn ghi, mang tinh thần thượng tôn pháp luật nói chung, để cảnh báo ngăn cản việc làm sách giả, sách lậu, in ấn và làm ebook trái phép… mà thôi. Đó chỉ là suy diễn do hiểu nhầm, chứ dòng ghi nhận bản quyền đó không hàm ý gì đến việc xác lập quyền sở hữu một tác phẩm cụ thể nào. Ai làm trong ngành xuất bản cũng đều rõ điều đó”.

Trao đổi với báo chí, Phó ban biên tập NXB Hội nhà văn, nhà văn Tạ Duy Anh và đại diện Nhã Nam cũng khẳng định NXB Nhã Nam không vi phạm quyền thân nhân. Ông nhấn mạnh: “Quan điểm của cá nhân tôi và với tư cách người biên tập thì Nhã Nam có cơ sở của họ khi cho rằng họ không hề vi phạm quyền nhân thân, điều đó cũng có nghĩa NXB không vi phạm quyền trên. Ông Cao Đắc Điểm và Nhã Nam dựa vào hai văn bản khác nhau. Nhã Nam dựa trên bản in của NXB Mai Lĩnh, trong khi ông Cao Đắc Điểm lại dựa vào bản in trên báo. Là người biên tập, tôi khẳng định Nhã Nam không hề cắt xén bất cứ đoạn, câu văn nào so với bản in của Mai Lĩnh mà Nhã Nam trình NXB.

Còn chuyện có một số lỗi, trong đó có lỗi thuộc về biên tập, có lỗi do chế bản, thì là một điều đáng tiếc và nói thật tình là vô cùng khó tránh khỏi nếu không muốn nói in đúng tuyệt đối là bất khả. Tuy nhiên, cả NXB và Nhã Nam sẽ phải nghiêm túc khắc phục những sai sót trên nếu có cơ hội.”

Nguồn: (PetroTimes)

{loadposition hotro} 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Câu hỏi thường gặp

TRẢ LỜI:

# Theo Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 quy định như sau:

1. TỔ CHỨC, CÁ NHÂN có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.

2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.

3. Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

4. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

5. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:

a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;

b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.

6. Người có quyền đăng ký quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 trên này, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng.

7. Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

TRẢ LỜI:

Hiện nay Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu có thể tự làm hoặc Ủy quyền đăng ký qua Đại Diện Sở Hữu Công Nghiệp

Đại diện sở hữu công nghiệp → Giống như Kiểu Công ty Luật A&S 

Có thể khái quát việc nộp đơn như sau

1. NỘP ĐƠN QUA ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Hồ sơ gồm: 

- GIẤY ỦY QUYỀN CHO ĐẠI DIỆN 

- MẪU ĐƠN (10 MẪU 8X8 CM)

2. TỰ NỘP ĐƠN

CÁ NHÂN HOẶC CÔNG TY LÀ CHỦ ĐƠN 

  1. Mẫu nhãn hiệu với kích thước lớn hơn 3×3 cm và nhỏ hơn 8 x8 cm;
  2. Danh mục hàng hóa dịch vụ cần đăng ký nhãn hiệu;
  3. Tờ khai đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu chứng nhận
  4. Giấy phép kinh doanh nếu chủ đơn là Công ty (CÁ NHÂN KHÔNG CẦN GIẤY ĐĂNG KÝ KINH DOANH) 

NHÃN HIỆU TẬP THỂ

1. Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận;

2. Bản thuyết minh về tính chất,chất lượng đặc trưng (hoặc đặc thù) của sản phẩm mang nhãn hiệu (nếu nhãn hiệu được đăng ký là nhãn hiệu tập thể dùng cho sản phẩm có tính chất đặc thù hoặc là nhãn hiệu chứng nhận chất lượng của sản phẩm hoặc là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý);

3. Bản đồ xác định lãnh thổ (nếu nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý của sản phẩm).

4. Mẫu nhãn hiệu với kích thước lớn hơn 3×3 cm và nhỏ hơn 8 x8 cm;

5. Danh mục hàng hóa dịch vụ cần đăng ký nhãn hiệu;

6. Tờ khai đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu chứng nhận

Trả lời

- Tra cứu thương hiệu độc quyền cơ bản, sơ bộ: Trong dạng này, thời gian tra cứu thương hiệu độc quyền sơ bộ chỉ mất 03 đến 05 tiếng để tra cứu. Tuy nhiên, việc tra cứu này không đảm bảo được chính xác thương hiệu có sự trùng lặp, tương tự hay không vì dữ liệu do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cung cấp trên trang dữ liệu quốc gia đã được cập nhật trước thời điểm tra cứu 03 tháng, tức là tại thời điểm tra cứu thì các đơn mới nộp trong khoảng 03 tháng trở lại đây là chưa được cập nhật trên dữ liệu quốc gia nên không thể tra cứu chính xác 100%.

Link tra cứu miễn phí: 

http://iplib.noip.gov.vn/WebUI/WSearch.php

- Tra cứu thương hiệu độc quyền chi tiết, nâng cao: Trong dạng tra cứu này, độ chính xác đạt cao nhất, được tiến hành bởi các chuyên viên, chuyên gia có kinh nghiệm sẽ đảm bảo tỷ lệ đăng ký thương hiệu độc quyền cao nhất, các chuyên viên, chuyên gia sẽ thẩm định và kiểm tra sự trùng lặp, dễ gây nhầm lẫn để có cở sở điều chỉnh lại thương hiệu sao cho phù hợp nhất.

LIÊN HỆ A&S LAW FIRM qua hotline: +84 972 817 699

PHÍ TRA CỨU CHUYÊN SÂU CHỈ TỪ 500.000 VNĐ / LẦN TRA CỨU 

Trả lời

CÓ HAI CÁCH NỘP ĐƠN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU

1. NGƯỜI NỘP ĐƠN TỰ NỘP

Bạn có thể nộp đơn trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc thông qua đơn vị đại diện sở hữu trí tuệ nộp đơn đăng ký thương hiệu độc quyền tại một trong ba địa chỉ sau:

- Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại số 384-386, đường Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Văn phòng đại diện Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng: Tầng 3, số 135 đường Minh Mạng, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn.

- Văn phòng đại diện Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh: số 17 - 19 Tôn Thất Tùng, Tầng 7, tòa nhà Hà Phan, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1.

Lưu ý: Hai văn phòng đại diện chỉ là đơn vị tiếp nhận đơn đăng ký, còn cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định hồ sơ và cấp văn bằng bảo hộ thương hiệu độc quyền chỉ có Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam ở Hà Nội.

2. NỘP ĐƠN THÔNG QUA ĐẠI DIỆN SHCN A&S LAW FIRM

LIÊN HỆ A&S LAW FIRM qua hotline: +84 972 817 699

PHÍ TRA CỨU CHUYÊN SÂU CHỈ TỪ 500.000 VNĐ / LẦN TRA CỨU →

Trả lời

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ xử lý và giải quyết hồ sơ đăng ký thương hiệu độc quyền với thời gian của từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hình thức đơn đăng ký thương hiệu độc quyền dao động trong khoảng 01 tháng đến 03 tháng;

- Giai đoạn công bố đơn hợp lệ là 02 tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ;

- Giai đoạn đăng công bố lên Công báo A từ 4-6 tháng từ ngày chấp nhận hình thức đơn

- Giai đoạn thẩm định nội dung đơn đăng ký thương hiệu độc quyền dao động trong khoảng từ 14 tháng đến 16 tháng;

Như vậy, tổng thời gian đăng ký thương hiệu độc quyền từ thời điểm nộp hồ sơ đến khi được cấp văn bằng bảo hộ dao động trong khoảng 24 tháng đến 26 tháng theo quy định của pháp luật.

Trả lời

THỜI HẠN CÓ HIỆU LỰC CỦA VĂN BẰNG NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM LÀ 10 NĂM VÀ ĐƯỢC GIA HẠN KHÔNG GIỚI HẠN SỐ LẦN CĂN CỨ

Khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về hiệu lực của văn bằng bảo hộ như sau:

” Giấy chứng nhận nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm”.

Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu là 10 năm, tuy nhiên chủ sở hữu nhãn hiệu có thể xin gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm và có thể được bảo hộ mãi mãi nếu được gia hạn đúng hạn. Trong vòng 06 tháng trước ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, chủ sỡ hữu nhãn hiệu phải nộp đơn yêu cầu gia hạn và lệ phí theo quy định cho Cục Sở hữu trí tuệ.

Trả lời

NHÃN HIỆU CÓ THỂ CHUYỂN NHƯỢNG ĐƯỢC

HỒ SƠ CHUYỂN NHƯỢNG GỒM

Chuyển nhượng nhãn hiệu cần các giấy tờ:

Bản gốc của giấy chứng nhận đã đăng ký nhãn hiệu or văn bản bảo hộ; Kèm thêm 2 bản hợp đồng chuyển nhượng đồng thời phải có chữ kỹ từng trang. Mộc đỏ của con dấu " Nếu có "; Thêm vào là giấy ủy quyền từ bên chịu trách nhiệm ký hợp đồng chuyển nhượng / chuyển giao nhãn hiệu theo quy định pháp luật và hợp đồng 2 bên thỏa thuận.

Thời gian hoàn tất việc đăng ký Hợp đồng chuyển nhượng/chuyển giao nhãn hiệu là 06 tháng kể từ ngày nộp đơn.

Đăng ký nhãn hiệu | How to set up representative office in Vietnam? | Trademark registration in Vietnam