Có giảm được bia rượu không nếu tăng thuế

Tác hại của Bia Rượu đã và đang được kiểm chứng bởi hàng loạt các sự kiện, hành vi sai trái trong cơn say do rượu, bia gây ra. Chưa kể vào đó, Chi phí tiêu hao vào Bia rượu tại Việt Nam cũng đáng lo ngại

Thực vậy, Số liệu mà Tổng cục Thống kê vừa công bố, năm 2013 Việt Nam tiêu thụ 3 tỉ lít bia, tương đương số tiền 3 tỉ USD đã khiến nhiều người giật mình. Trước thực trạng đâu đâu cũng nhậu, việc gì cũng nhậu…, nhiều chuyên gia đề xuất cần áp thuế cho mặt hàng này cao hơn nữa để vừa thu ngân sách, vừa hạn chế tiêu thụ rượu bia cùng những tác hại về xã hội, sức khỏe… của nó.

Đánh thuế mạnh, bớt người uống bia!

Thói quen uống bia của người Việt một phần do bia ở Việt Nam quá rẻ và dễ mua. Hàng quán nào cũng có thể bán mà không có bất cứ quy định, tiêu chuẩn nào. Các quán nhậu thượng vàng hạ cám lại mọc lên như nấm khiến thói quen nhậu nhẹt càng được dịp lên ngôi.

Có chuyên gia kinh tế cho rằng không thể để bia rượu bán tràn lan như hiện nay. “Một số nước siết ngay từ khâu phân phối, tức là với các siêu thị thì giá bia có thể bình thường nhưng ở quán nhậu, cửa hàng thì giá bia cao chót vót. Tôi cho rằng chúng ta cũng phải siết lại khâu phân phối, không thể để các cửa hàng, quán nhậu có thể dễ dàng bán vô tội vạ như hiện nay”.

Theo đó, Ông cho rằng thuế cao là biện pháp tốt nhất lúc này để vừa thu ngân sách vừa để giảm nhu cầu tiêu dùng.

Tăng thuế liệu có thay đổi được thói quen?

Hiện mỗi năm thuế tiêu thụ đặc biệt nộp vào ngân sách khoảng 35.000-40.000 tỉ đồng, trong đó chủ yếu là từ các mặt hàng bia rượu, thuốc lá. Riêng mặt hàng bia đang phải chịu ba loại thuế gồm thuế tiêu thụ đặc biệt (50%), thuế nhập khẩu (50%) và thuế giá trị gia tăng (10%). Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam, mức thuế như trên là tương đối cao. Chưa kể đối với các mặt hàng này mức thuế còn phải thực hiện theo cam kết WTO. “Tất cả đều có lý do và cần một cách nhìn tổng quát. Tôi cho rằng chỉ riêng về thuế chưa giải quyết được vấn đề. Người dân uống bia không phải là do giá rẻ. Vấn đề là truyền thông để thay đổi thói quen chứ cứ đánh thuế, tăng giá chưa chắc đã giải quyết hết được” – bà Cúc nói.

Còn TS Nguyễn Thị Thủy, Trường ĐH Luật TP.HCM, cho rằng thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế nội địa, việc tăng hay giảm là phụ thuộc vào thẩm quyền của Quốc hội, còn thuế suất nhập khẩu thì liên quan đến cam kết quốc tế. Từ đây, nếu muốn áp tăng thuế mặt hàng bia thì chỉ có thể tăng thuế tiêu thụ nội địa.

“Về nguyên tắc, nếu muốn hạn chế mặt hàng nào đó thì Nhà nước sẽ tăng thuế nhưng khi tăng thuế thì phải kiểm soát được buôn lậu, trốn thuế. Còn nếu không tăng cường những biện pháp kèm theo thì việc tăng thuế cũng không giải quyết được vấn đề gì” – TS Thủy nói.

Phạt nặng và tăng cường truyền thông

TS Trần Đình Lâm, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á (Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM), cho rằng tệ nạn ăn nhậu ở nước ta có phần do luật lệ chưa rõ ràng, xử phạt không nghiêm và nhiều người Việt khi kiếm được một chút tiền là thích hưởng thụ. Cần giáo dục sao cho người bán sợ bị tước giấy phép và người uống cũng sợ bị phạt.

Theo TS Trần Đình Lâm, tại Hàn Quốc không chỉ kinh doanh rượu phải có giấy phép mà bán bia cũng phải được cấp phép. Sinh viên dưới 18 tuổi không được phép uống rượu bia. Người đã uống phải thuê xe khác để về, bởi nếu cảnh sát bắt được sẽ bị tước bằng lái. Tại Áo, vào những chiều thứ Bảy, Chủ nhật ở các đầu mối giao thông, cảnh sát thường đón các xe hơi, nếu có độ cồn sẽ bị phạt tiền nặng và nếu bị thông báo đến cơ quan làm việc thì có thể bị đuổi việc. Rất nhiều bãi biển tại Mỹ hiện nay cấm uống bia, nếu vi phạm sẽ phạt rất nặng.

Ông Trần Quang Thắng, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TP.HCM, cho biết thế giới cũng có một số quốc gia châu Âu có thời gian dài người dân tiêu thụ bia nhiều nhưng hiện nay đã giảm. Cụ thể như tại Đức tiêu thụ bình quân đầu người là 50 lít bia/năm thì trong khoảng bốn năm trở lại đây giảm còn 30 lít. Sự thay đổi này do người dân ngày càng ý thức được tác hại của bia rượu đối với sức khỏe như các bệnh về tim mạch, gan, teo não… cũng như làm cho hình dáng người uống không đẹp. Tại Việt Nam 90% lượng tiêu thụ là bia, 10% còn lại là rượu. Dù bất cứ dịp gì bia vẫn là thức uống được người ta sử dụng gọi là để thể hiện nét “văn hóa tâm giao”. Người được mời không dùng thì cũng không xong nên đây là “nét văn hóa” rất nguy hiểm.

Ông Thắng cũng cho hay ở Việt Nam nếu đánh thuế tiêu thụ đặc biệt tăng 60%-70%, thậm chí lên 90% thì người dân vẫn uống. Vì vậy điều quan trọng là làm sao giáo dục, tuyên truyền để mỗi người tự ý thức được những hệ quả xấu mà bia rượu gây ra thì lúc đó tự động người dân sẽ hạn chế hoặc không dùng nữa. Làm sao để hướng đến một nét văn hóa mới khi dùng các sản phẩm thay thế như trà, cà phê… lúc đó mới hạn chế được tình trạng tiêu thụ bia rượu một cách khủng khiếp như hiện nay.

Theo Pháp luật TP

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Câu hỏi thường gặp

TRẢ LỜI:

# Theo Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 quy định như sau:

1. TỔ CHỨC, CÁ NHÂN có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.

2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.

3. Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

4. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

5. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:

a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;

b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.

6. Người có quyền đăng ký quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 trên này, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng.

7. Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

TRẢ LỜI:

Hiện nay Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu có thể tự làm hoặc Ủy quyền đăng ký qua Đại Diện Sở Hữu Công Nghiệp

Đại diện sở hữu công nghiệp → Giống như Kiểu Công ty Luật A&S 

Có thể khái quát việc nộp đơn như sau

1. NỘP ĐƠN QUA ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Hồ sơ gồm: 

- GIẤY ỦY QUYỀN CHO ĐẠI DIỆN 

- MẪU ĐƠN (10 MẪU 8X8 CM)

2. TỰ NỘP ĐƠN

CÁ NHÂN HOẶC CÔNG TY LÀ CHỦ ĐƠN 

  1. Mẫu nhãn hiệu với kích thước lớn hơn 3×3 cm và nhỏ hơn 8 x8 cm;
  2. Danh mục hàng hóa dịch vụ cần đăng ký nhãn hiệu;
  3. Tờ khai đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu chứng nhận
  4. Giấy phép kinh doanh nếu chủ đơn là Công ty (CÁ NHÂN KHÔNG CẦN GIẤY ĐĂNG KÝ KINH DOANH) 

NHÃN HIỆU TẬP THỂ

1. Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận;

2. Bản thuyết minh về tính chất,chất lượng đặc trưng (hoặc đặc thù) của sản phẩm mang nhãn hiệu (nếu nhãn hiệu được đăng ký là nhãn hiệu tập thể dùng cho sản phẩm có tính chất đặc thù hoặc là nhãn hiệu chứng nhận chất lượng của sản phẩm hoặc là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý);

3. Bản đồ xác định lãnh thổ (nếu nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý của sản phẩm).

4. Mẫu nhãn hiệu với kích thước lớn hơn 3×3 cm và nhỏ hơn 8 x8 cm;

5. Danh mục hàng hóa dịch vụ cần đăng ký nhãn hiệu;

6. Tờ khai đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu chứng nhận

Trả lời

- Tra cứu thương hiệu độc quyền cơ bản, sơ bộ: Trong dạng này, thời gian tra cứu thương hiệu độc quyền sơ bộ chỉ mất 03 đến 05 tiếng để tra cứu. Tuy nhiên, việc tra cứu này không đảm bảo được chính xác thương hiệu có sự trùng lặp, tương tự hay không vì dữ liệu do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cung cấp trên trang dữ liệu quốc gia đã được cập nhật trước thời điểm tra cứu 03 tháng, tức là tại thời điểm tra cứu thì các đơn mới nộp trong khoảng 03 tháng trở lại đây là chưa được cập nhật trên dữ liệu quốc gia nên không thể tra cứu chính xác 100%.

Link tra cứu miễn phí: 

http://iplib.noip.gov.vn/WebUI/WSearch.php

- Tra cứu thương hiệu độc quyền chi tiết, nâng cao: Trong dạng tra cứu này, độ chính xác đạt cao nhất, được tiến hành bởi các chuyên viên, chuyên gia có kinh nghiệm sẽ đảm bảo tỷ lệ đăng ký thương hiệu độc quyền cao nhất, các chuyên viên, chuyên gia sẽ thẩm định và kiểm tra sự trùng lặp, dễ gây nhầm lẫn để có cở sở điều chỉnh lại thương hiệu sao cho phù hợp nhất.

LIÊN HỆ A&S LAW FIRM qua hotline: +84 972 817 699

PHÍ TRA CỨU CHUYÊN SÂU CHỈ TỪ 500.000 VNĐ / LẦN TRA CỨU 

Trả lời

CÓ HAI CÁCH NỘP ĐƠN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU

1. NGƯỜI NỘP ĐƠN TỰ NỘP

Bạn có thể nộp đơn trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc thông qua đơn vị đại diện sở hữu trí tuệ nộp đơn đăng ký thương hiệu độc quyền tại một trong ba địa chỉ sau:

- Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại số 384-386, đường Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Văn phòng đại diện Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng: Tầng 3, số 135 đường Minh Mạng, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn.

- Văn phòng đại diện Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh: số 17 - 19 Tôn Thất Tùng, Tầng 7, tòa nhà Hà Phan, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1.

Lưu ý: Hai văn phòng đại diện chỉ là đơn vị tiếp nhận đơn đăng ký, còn cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định hồ sơ và cấp văn bằng bảo hộ thương hiệu độc quyền chỉ có Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam ở Hà Nội.

2. NỘP ĐƠN THÔNG QUA ĐẠI DIỆN SHCN A&S LAW FIRM

LIÊN HỆ A&S LAW FIRM qua hotline: +84 972 817 699

PHÍ TRA CỨU CHUYÊN SÂU CHỈ TỪ 500.000 VNĐ / LẦN TRA CỨU →

Trả lời

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ xử lý và giải quyết hồ sơ đăng ký thương hiệu độc quyền với thời gian của từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hình thức đơn đăng ký thương hiệu độc quyền dao động trong khoảng 01 tháng đến 03 tháng;

- Giai đoạn công bố đơn hợp lệ là 02 tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ;

- Giai đoạn đăng công bố lên Công báo A từ 4-6 tháng từ ngày chấp nhận hình thức đơn

- Giai đoạn thẩm định nội dung đơn đăng ký thương hiệu độc quyền dao động trong khoảng từ 14 tháng đến 16 tháng;

Như vậy, tổng thời gian đăng ký thương hiệu độc quyền từ thời điểm nộp hồ sơ đến khi được cấp văn bằng bảo hộ dao động trong khoảng 24 tháng đến 26 tháng theo quy định của pháp luật.

Trả lời

THỜI HẠN CÓ HIỆU LỰC CỦA VĂN BẰNG NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM LÀ 10 NĂM VÀ ĐƯỢC GIA HẠN KHÔNG GIỚI HẠN SỐ LẦN CĂN CỨ

Khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về hiệu lực của văn bằng bảo hộ như sau:

” Giấy chứng nhận nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm”.

Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu là 10 năm, tuy nhiên chủ sở hữu nhãn hiệu có thể xin gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm và có thể được bảo hộ mãi mãi nếu được gia hạn đúng hạn. Trong vòng 06 tháng trước ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, chủ sỡ hữu nhãn hiệu phải nộp đơn yêu cầu gia hạn và lệ phí theo quy định cho Cục Sở hữu trí tuệ.

Trả lời

NHÃN HIỆU CÓ THỂ CHUYỂN NHƯỢNG ĐƯỢC

HỒ SƠ CHUYỂN NHƯỢNG GỒM

Chuyển nhượng nhãn hiệu cần các giấy tờ:

Bản gốc của giấy chứng nhận đã đăng ký nhãn hiệu or văn bản bảo hộ; Kèm thêm 2 bản hợp đồng chuyển nhượng đồng thời phải có chữ kỹ từng trang. Mộc đỏ của con dấu " Nếu có "; Thêm vào là giấy ủy quyền từ bên chịu trách nhiệm ký hợp đồng chuyển nhượng / chuyển giao nhãn hiệu theo quy định pháp luật và hợp đồng 2 bên thỏa thuận.

Thời gian hoàn tất việc đăng ký Hợp đồng chuyển nhượng/chuyển giao nhãn hiệu là 06 tháng kể từ ngày nộp đơn.

Đăng ký nhãn hiệu | How to set up representative office in Vietnam? | Trademark registration in Vietnam